1. Tổng quan về bệnh sởi, quai bị và rubella
Sởi, quai bị và rubella là ba bệnh truyền nhiễm cấp tính do các loại vi rút khác nhau gây ra. Cả ba bệnh đều có khả năng lây lan trong cộng đồng thông qua các giọt bắn hô hấp, dịch tiết mũi họng hoặc qua không khí, đặc biệt dễ bùng phát ở những đối tượng chưa có miễn dịch phòng bệnh. [1], [3], [5].
Mặc dù có những biểu hiện lâm sàng đặc trưng riêng, cả ba bệnh đều có thể gây biến chứng. Đặc biệt, sởi có thể gây viêm phổi, viêm não; quai bị có thể gây viêm tinh hoàn, viêm màng não; trong khi rubella có nguy cơ gây dị tật bẩm sinh nghiêm trọng nếu phụ nữ nhiễm bệnh trong thai kỳ [2], [4], [6].
2. Bệnh sởi, quai bị và rubella: Những điều cần biết
2.1. Bệnh sởi
Bệnh sởi do Measles virus (tên khoa học: Morbillivirus hominis trong họ Paramyxoviridae) gây ra, lây truyền qua không khí khi người nhiễm bệnh thở, ho hoặc hắt hơi. Vi rút có thể duy trì khả năng lây nhiễm trong không khí đến 2 giờ sau khi người bệnh rời khỏi khu vực đó. Theo CDC, có tới 9/10 người chưa có miễn dịch có thể mắc sởi nếu tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh [1].
Triệu chứng thường xuất hiện sau 7-14 ngày kể từ khi tiếp xúc với vi rút. Những dấu hiệu điển hình bao gồm:
- Sốt cao, ho, sổ mũi.
- Mắt đỏ, chảy nước mắt hoặc viêm kết mạc.
- Có thể xuất hiện các đốm Koplik nhỏ màu trắng ở niêm mạc má.
- Phát ban đỏ bắt đầu từ vùng mặt, sau đó lan dần xuống thân mình và các chi [1], [2].
Ảnh: Đốm Koplik trong miệng người mắc sởi. (Nguồn: AAFP)
Sởi không chỉ gây sốt và phát ban mà còn có thể dẫn đến các biến chứng như:
- Viêm tai giữa, tiêu chảy.
- Viêm phổi, viêm não.
- Tổn thương mắt, suy giảm thị lực hoặc mù lòa.
- Viêm não xơ hóa bán cấp tiến triển, một biến chứng thần kinh hiếm gặp nhưng nghiêm trọng.
Ngoài ra, nhiễm vi rút sởi có thể làm suy giảm trí nhớ miễn dịch, khiến người bệnh dễ mắc một số bệnh nhiễm trùng khác trong thời gian dài sau khi hồi phục [1], [2].
2.2. Bệnh quai bị
Quai bị là bệnh truyền nhiễm do Mumps virus (tên khoa học: Mumps orthorubulavirus trong họ Paramyxoviridae) gây ra, thường ảnh hưởng đến tuyến nước bọt, đặc biệt là tuyến mang tai.
Vi rút lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với nước bọt hoặc giọt bắn đường hô hấp khi người nhiễm bệnh ho, hắt hơi, nói chuyện, hôn hoặc dùng chung vật dụng có dính nước bọt [3].
Thời gian ủ bệnh thường khoảng 16-18 ngày, có thể dao động từ 12-25 ngày.
Các triệu chứng thường gặp gồm:
- Sốt, đau đầu, mệt mỏi, đau cơ và chán ăn.
- Sưng đau tuyến mang tai ở một hoặc hai bên, khiến vùng má và góc hàm sưng to.
- Đau khi nhai hoặc nuốt [3], [4].
Quai bị có thể gây ra các biến chứng như:
- Viêm tinh hoàn, đặc biệt ở nam giới sau tuổi dậy thì.
- Viêm buồng trứng hoặc viêm tuyến vú.
- Viêm màng não, viêm não.
- Viêm tụy.
- Suy giảm thính lực, hiếm gặp mất thính lực vĩnh viễn [4].
Ảnh: Minh hoạ trẻ mắc Quai bị
2.3. Bệnh rubella
Rubella là bệnh truyền nhiễm do Rubella virus (thuộc họ Matonaviridae) gây ra, lây truyền chủ yếu qua dịch tiết đường hô hấp khi người nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi. Theo CDC, khoảng 25-50% người nhiễm rubella không có triệu chứng rõ ràng nhưng vẫn có khả năng lây truyền vi rút cho người khác [5].
Những triệu chứng thường gặp gồm:
- Sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng.
- Sưng hạch sau tai, vùng chẩm hoặc cổ.
- Phát ban dạng dát sẩn màu hồng đỏ, bắt đầu từ mặt và lan xuống toàn thân, thường kéo dài khoảng 3 ngày.
- Đau khớp hoặc viêm khớp, thường gặp hơn ở phụ nữ trưởng thành.
Theo CDC, có tới 70% phụ nữ trưởng thành mắc rubella có thể xuất hiện đau khớp hoặc viêm khớp [5], [6].
Ảnh: Biến chứng Rubella (Nguồn: CDC)
Biến chứng nguy hiểm – Hội chứng rubella bẩm sinh (CRS)
Rubella đặc biệt nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai, nhất là trong ba tháng đầu thai kỳ.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nếu người mẹ nhiễm rubella trong giai đoạn từ ngay trước khi thụ thai đến khoảng 8-10 tuần đầu thai kỳ, nguy cơ thai nhi xuất hiện nhiều bất thường bẩm sinh có thể lên tới 90% [7].
Nhiễm rubella trong thai kỳ có thể dẫn đến sảy thai, thai chết lưu hoặc hội chứng rubella bẩm sinh (CRS), với những hậu quả như:
- Điếc hoặc suy giảm thính lực.
- Dị tật mắt, bao gồm đục thủy tinh thể bẩm sinh.
- Dị tật tim bẩm sinh.
- Chậm phát triển và tổn thương thần kinh.
Trẻ mắc hội chứng rubella bẩm sinh có thể tiếp tục thải vi rút qua dịch tiết cơ thể trong thời gian dài, đôi khi từ một năm trở lên [7], [8].
3. Chủ động phòng ngừa bệnh sởi, quai bị, rubella bằng vắc xin phối hợp Measles, Mumps and Rubella Vaccine Live Attenuated – MMR
Tiêm vắc xin là biện pháp an toàn và hiệu quả giúp tạo miễn dịch chủ động phòng ngừa cả ba bệnh sởi, quai bị và rubella.
Vắc xin MMR là vắc xin phối hợp chứa các vi rút sởi, quai bị và rubella sống giảm độc lực, giúp cơ thể hình thành đáp ứng miễn dịch chống lại ba bệnh tương ứng.
Theo lịch tiêm được khuyến nghị (*):
- Mũi 1: Khi trẻ 12-15 tháng tuổi.
- Mũi 2: Khi trẻ 4-6 tuổi.(**)
(*) Áp dụng trong trường hợp đã tiêm sởi đơn lúc 9 tháng.
(**) Mũi 2 (mũi nhắc lại) có thể tiêm vào thời điểm bất kỳ nhưng phải cách mũi 1 (hoặc một mũi vắc xin sống bất kỳ đã tiêm trước đó) tối thiểu là 4 tuần.
Ảnh: Chủ động tiêm vắc xin MMR
Hiện nay, vắc xin phối hợp MMR – TRESIVAC do Viện Huyết thanh Ấn Độ sản xuất, được nhập khẩu bởi Công ty TNHH Một thành viên Vắc xin và Sinh phẩm số 1 và phân phối bởi NAVIVA GROUP, giúp tạo miễn dịch chủ động phòng ngừa đồng thời ba bệnh sởi, quai bị và rubella.
Phụ huynh cần chủ động kiểm tra sổ tiêm chủng của trẻ và đưa trẻ đến cơ sở tiêm chủng để được khám sàng lọc, tư vấn lịch tiêm vắc xin MMR phù hợp, góp phần phòng ngừa sởi, quai bị và rubella.
Nguồn tham khảo:
[1] CDC. About Measles. 2026
[2] WHO. Measles – Fact Sheet. 2026
[3] CDC. About Mumps. 2025



